Con ngöôøi khoâng theå baát hieáu cha meï
Khoâng theå nghòch Thaày phaûn ñaïo

hieuthantonsu.vn

HỌC THUYẾT KHỔNG MẠNH VÀ PHẬT PHÁP ĐẠI THỪA CÓ THỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

HỌC THUYẾT KHỔNG MẠNH VÀ

PHẬT PHÁP ĐẠI THỪA CÓ THỂ

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

Giảng giải: Hòa Thượng Tịnh Không
 

Làm thế nào để thành tựu Hoa Nghiêm?

Niệm Phật có thể thành tựu, có thể nhập cảnh giới Hoa Nghiêm. Nếu không thật tu thì những thứ ta học được chỉ là tri thức. Triết học, khoa học là tri thức nên không nhập vào được cảnh giới Hoa Nghiêm.

Nhập cảnh giới của nó, Hoa Nghiêm tu pháp giới quán, mấy ai có thể tu thành?

Pháp Hoa tu Ma Ha Chỉ Quán, đó đều không dễ, rất khó. Nên trên thế giới này có rất nhiều trường đại học, có những môn học này. Tôi có nhân duyên đi tham quan trường Hán Học Âu Châu, ở Luân Đôn nước Anh.

Tôi thấy đại học Ngưu Luật, đại học Kiếm Kiều, đại học Luân Đôn, phỏng vấn khoa Hán Học và giao lưu với các vị giáo thọ, thấy được điểm tương đồng giống ba năm lúc tôi mới học với thầy Phương, đều xem triết học trong Kinh Phật như tri thức để nghiên cứu.

Họ đi con đường này, nhưng thật sự Phật học không phải là tri thức, nó là trí tuệ, nó là thực tiễn. Từ nhận thức cho đến thực hành, họ có thể đem những điều học được, hoàn toàn ứng dụng trong cuộc sống như công tác xử sự, đối nhân, tiếp vật. Phật Pháp đều biểu hiện ở đây. Là thực học, không phải huyền học, không phải nói không. Thật sự được lợi ích.

Chúng ta càng học càng thâm nhập, hai ba mươi năm sau mới phát hiện, học Phật đích thực như thầy Phương nói, thật sự là học vấn vĩ đại nhất trên thế giới, mà còn là học vấn thực dụng nhất. Chẳng trách tiến sĩ Thang Ân Tỷ nói, giải quyết vấn đề xã hội của thế kỷ hai mươi mốt, chỉ có học thuyết Khổng Mạnh và Phật Pháp đại thừa.

Phật Pháp đại thừa cũng ở Trung Quốc, nhưng ở Ấn Độ thì không còn nữa. tiến sĩ Thang Ân Tỷ tu học uyên bác thâm nhập, chúng ta chẳng thể không khâm phục. Lời này không dễ nói ra được. Khi tôi phỏng vấn ở nước Anh, tôi đem lời nói của ông nói lại một lần với học sinh của lớp Hán Học. Tất cả các bạn đồng học này, bao gồm giáo thọ của họ.

Tôi nói lời tiến sĩ Thang Ân Tỷ nói, quý vị có thể tin được chăng?

Là người nước Anh nói đấy. Không ai trả lời tôi mọi người chỉ nhìn tôi cười.

Trái lại tôi nói, chẳng lẽ Thang Ân Tỷ đã nói sai sao?

Quý vị có cho rằng ông ta nói sai chăng?

Cũng không ai trả lời. Sau cùng tôi giải thích với mọi người, tiến sĩ Thang Ân Tỷ nói không sai, rất có thể chúng ta đọc và hiểu sai.

Vì sao vậy?

Vì những thứ mà quý vị hiện đang nghiên cứu, toàn là văn hoá truyền thống xưa. Kinh Điển Nho Giáo, Kinh Điển Đạo Giáo và Kinh Điển Phật Giáo. Có một bạn học nói với tôi rằng, anh ta viết luận văn tiến sĩ về Kinh Vô Lượng Thọ.

Lúc đó tôi hỏi anh ta Kinh Vô Lượng Thọ có chín loại bản dịch khác nhau, anh dùng bản nào?

Anh ta dùng bản hội tập của Hạ Liên Cư. Tôi nói anh chọn đúng. Còn một người thì dùng học thuyết Mạnh Tử viết luận văn. Thêm bạn học khác nói với tôi, anh ta dùng Vương Duy, nhà văn học thời Nhà Đường.

Thật hiếm có. Người nước ngoài nói lưu loát tiếng Bắc Kinh. Có thể xem thể văn cổ và đọc sách cổ của Trung Quốc, chẳng thể không khâm phục. Thời gian giao lưu với họ chỉ một tiếng đồng hồ, thời gian không dài, tôi phải nắm chắc thời gian nói với họ.

Hiện nay chúng ta tu học, vấn đề xảy ra ở đâu?

Một mặt là thái độ, một mặt là phương pháp. Thái độ rất quan trọng, phải tôn sư trọng đạo. Tôn sư là tôn trọng học thuật của quý vị.

Nếu không tôn trọng môn học này thì học nó làm gì?

Đây là điều kiện thứ nhất. Điều kiện thứ hai là phương pháp, phương pháp trong Tam Tự Kinh nói giáo chi đạo, quý dĩ chuyên. Dạy và học đều quý ở chổ chuyên cần.

Hiện nay nhà trường sắp xếp bài học, giáo trình đều là xen kẽ, sáng một vị thầy dạy, chiều đổi một vị thầy khác dạy môn khác, nên tinh thần và ý chí học tập không thể tập trung, vì cùng một lúc học quá nhiều thứ, học quá tạp loạn. Như vậy tâm không chuyên thì không thể thâm nhập được. Vì thế những thứ ta học được đều sơ sài.

Người xưa không dùng phương pháp này. Họ chỉ dùng một bộ sách, chưa nghiên cứu hoàn tất bộ sách này thì không học bộ sách khác.

Tinh lực của họ dùng ở một điểm, đi sâu vào một chuyên môn. Họ có thể được định, có thể khai ngộ. Học tập như chúng ta ngày nay, tuy rất nỗ lực nhưng không đạt được tam muội, không khai ngộ được nên học chỉ là tri thức không phải trí huệ.

Ở phương Đông như Ấn Độ và Trung Quốc, người xưa học tập quan trọng nhất chính là khai trí huệ. Ví thế chương trình học tập là thâm nhập một môn, đó là phương pháp, đó chính là giới luật. Quý vị tuân thủ phương pháp này, do giới sanh định, nhờ định phát tuệ, đây mới là mục đích chính.

Trí huệ khai chẳng những quán thông những điều mình học, mà đến những điều chưa học vừa nhìn cũng đã thông suốt, đây chính là thông một Kinh thì tất cả các Kinh đều thông. Không thể thông hết, thì ít nhất cũng hiểu thấu những thứ giống như ta đang học. Như vậy khi học không cảm thấy khó khăn.

Sau khi họ nghe tôi diễn giảng, tôi tin rằng rất có lợi ích, chỉ ra quan niệm và phương pháp học tập cho họ. Mục đích học tập của chúng ta không phải là tri thức, mà là trí huệ.

Trí huệ có thể giải quyết tất cả mọi vấn đề, mà không có thói hư tật xấu. Tri thức nó có giới hạn, có thể giải quyết vấn đề nhưng rất giới hạn, không rộng rãi, không viên mãn, mà còn có di chứng về sau. Nên phương pháp của cổ nhân rất hay, người bây giờ không biết, không nhận thức. Các bậc Cao Tăng thạc đức đều đã ra đi, không còn người giảng dạy, càng không có ai có thể đem những điển tịch trong Kinh Điển này, làm gương cho chúng ta thấy.

Về hàng hậu học chúng ta tin rằng sẽ có người, những người này là Chư Phật Bồ Tát tái sanh, là Đại Thánh Đại Hiền theo nguyện lực mà tái sanh. Chúng ta chỉ cần lấy đạo của truyền thống văn hoá, đốt lên không bao giờ tắt và truyền mãi đến đời sau, tương lai nhất định có ngày rạng rỡ.

Có thể giúp xã hội trở về sự an định, hồi phục hoà bình, hồi phục cuộc sống bình thường nhưng hạnh phúc mỹ mãn. Giúp địa cầu hoá giải thiên tai. Điều này không phải là giả.

Chúng ta tu học có liên quan gì với thiên tai trên địa cầu?

Thật sự có liên quan. Trong Kinh Hoa Nghiêm nói rất thấu triệt, thật là cảnh tuỳ tâm chuyển. Hiệu quả đầu tiên đạt được chính là thân và tâm chúng ta, quả nhiên có thể đem Phật Pháp đại thừa thực hành trên thân tâm, khiến thân thể mạnh khoẻ trường thọ, không để già yếu, đầu óc sáng suốt, không chút mê hoặc. Có thể nhìn mọi vấn đề một cách thấu triệt, nguyên nhân và hậu quả của các vấn đề này đều thấu suốt.

Đây chính là điều Thang Ân Tỷ nói: Học thuyết Khổng Mạnh và Phật Pháp đại thừa có thể giải quyết vấn đề. Chúng ta học, học dĩ trí dụng. Thực ra tôi nói, đối với Phật Pháp sanh niềm hứng thú là do tin tưởng vào câu nói của thầy Phương. Tôi đã thực hiện câu nói của thầy. Thầy rất hoan hỷ. Học Phật là sự hưởng thụ tối cao của đời người. Hưởng thụ tối cao nhất phải là địa vị, không phải làm quan lớn, không phải phát tài nhiều.

Vậy là gì?

Là an vui. Nhân sinh an lạc, đây là hưởng thụ cao nhất. Làm bạn với các Bậc Thánh Hiền xưa, triển khai Tứ Khố Toàn Thư là làm bạn với các Bậc Thánh Hiền. Triển khai Đại Tạng Kinh thì là làm bạn với Chư Phật Bồ Tát. Chúng ta dùng tâm khiêm tốn để theo Chư Phật Bồ Tát, theo các Bậc Thánh Hiền. An vui biết bao.

Niềm an vui này chúng ta tìm không có, không phải dùng tiền có thể mua được, không phải quan cao tước dày có thể gặp được, an vui vô cùng. Suốt đời vì điều này mà thấy an vui không cảm thấy mệt nhọc. Lòng tin này càng học càng kiên định, nguyện lực càng học càng kiên cố.

Học mấy mươi năm, biết rằng mình sanh ra từ đâu?

Thân thể này sau khi chết đi về đâu?

Không có chút vướng bận nào. Nhân sinh làm gì có được niềm an vui này. Phật Pháp dùng sáu chữ để tổng kết toàn thể vũ trụ. Tánh và tướng. Tánh là thể, tướng là hiện tượng. Lý và sự. Thấu hiểu muôn sự muôn pháp. Thấu hiểu tướng, cũng thấu hiểu đạo lý. Trong này nhân quả rất phức tạp, nhưng đều biết hết, đều hiểu hết. Trồng thiện nhân được thiện quả.

Chẳng những chúng ta không làm điều bất thiện, mà đến ý niệm bất thiện cũng không có. Tâm địa thanh lương tự tại, lục căn tiếp xúc với cảnh giới lục trần, chỉ sanh trí huệ không sanh phiền não. Đây chính là những điều thầy Phương nói, hưởng thụ cao nhất của đời người.

Nên không tin thì không còn cách nào khác, đó thật gọi là đại phiền não, chứ không phải tiểu phiền não. Trí huệ, phương pháp, kinh nghiệm mấy ngàn năm của Thánh Hiền đều tổng kết ở trong điển tịch này.

Nếu tin tưởng học tập, không phải tất cả đều trở thành của chính mình sao?

Không tin, không cần nó thì thật là kiến văn hẹp hòi, những điều biết được quá ít, không có kinh nghiệm. Toàn dựa vào kinh nghiệm nhân sinh của mình thì sống sáu mươi năm, chỉ có sáu mươi năm kinh nghiệm. Còn sống tám mươi năm thì chỉ có tám mươi năm kinh nghiệm.

***